Trong thực tế, không ít người vì tin tưởng bạn bè, người thân hoặc đối tác mà cho vay tiền chỉ bằng lời nói, chuyển khoản hoặc tin nhắn, không lập giấy vay nợ hay hợp đồng bằng văn bản. Đến khi bên vay không trả tiền, nhiều người cho rằng mình không còn cơ hội đòi lại khoản tiền đã cho vay.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không bắt buộc hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân với cá nhân phải được lập thành văn bản. Nếu người cho vay có thể chứng minh giao dịch vay tiền đã phát sinh trên thực tế thì vẫn có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
1. Cho vay không có giấy tờ có hợp pháp không?
Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có thể được xác lập bằng:
- Lời nói;
- Văn bản;
- Hành vi cụ thể;
- Thông điệp dữ liệu điện tử (tin nhắn, email, dữ liệu điện tử…) theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc cho vay tiền bằng lời nói, chuyển khoản ngân hàng hoặc trao đổi qua Zalo, Messenger, SMS, Email… vẫn có thể được pháp luật công nhận, miễn là đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay có hiệu lực khi:
- Các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;
- Việc giao kết hoàn toàn tự nguyện;
- Nội dung và mục đích của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Nghĩa vụ của bên vay: Theo Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, khi nhận tiền vay, bên vay có nghĩa vụ:
- Hoàn trả đầy đủ số tiền đã vay khi đến hạn;
- Nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả thì phải trả khi bên cho vay yêu cầu;
- Nếu chậm trả phải thanh toán tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận hợp pháp giữa các bên.
Lãi suất được phép thỏa thuận: Theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất vay do các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật có quy định khác. Phần lãi vượt quá mức này sẽ không được pháp luật công nhận.
2. Không có giấy vay thì chứng minh khoản nợ bằng cách nào?
Trong các vụ án đòi nợ, người cho vay có nghĩa vụ chứng minh việc giao dịch vay tiền đã xảy ra theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Theo Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, những loại chứng cứ dưới đây đều có thể được Tòa án xem xét:
– Tin nhắn và dữ liệu điện tử bao gồm:
- Tin nhắn SMS;
- Zalo;
- Messenger;
- Email;
- Hình ảnh;
- Ghi âm cuộc gọi;
- Video ghi nhận việc giao nhận tiền hoặc trao đổi về khoản vay.
Nếu trong các nội dung này bên vay thừa nhận việc vay tiền hoặc hứa hẹn trả nợ thì đây là chứng cứ có giá trị rất lớn.
– Sao kê ngân hàng: nếu tiền được chuyển khoản, lịch sử giao dịch ngân hàng sẽ là căn cứ quan trọng, đặc biệt khi nội dung chuyển khoản ghi rõ: Cho vay; Cho mượn tiền; Tạm ứng; Thanh toán khoản vay…
– Người làm chứng: những người trực tiếp chứng kiến việc giao nhận tiền hoặc nghe các bên thỏa thuận vay có thể được Tòa án triệu tập để làm chứng.
– Sự thừa nhận của bên vay: theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nếu bên vay thừa nhận khoản nợ hoặc không phản đối các tài liệu do bên cho vay cung cấp thì người cho vay không phải tiếp tục chứng minh nội dung đó.
3. Các bước thu hồi tiền khi cho vay không có giấy tờ
Bước 1. Thu thập và củng cố chứng cứ
Trước khi khởi kiện, người cho vay nên chủ động tạo lập thêm chứng cứ bằng các cách như:
- Xin sao kê ngân hàng đối với các khoản đã chuyển;
- Lưu giữ toàn bộ tin nhắn, email và lịch sử cuộc gọi;
- Ghi âm các cuộc trao đổi về việc trả nợ (nếu phù hợp với quy định pháp luật);
- Gửi tin nhắn nhắc nợ để bên vay xác nhận số tiền còn nợ;
- Đề nghị người làm chứng lập văn bản xác nhận việc vay tiền.
Bước 2. Gửi thông báo yêu cầu thanh toán
Trước khi khởi kiện, nên gửi văn bản yêu cầu trả nợ với các nội dung:
- Số tiền đã cho vay;
- Thời điểm vay;
- Thời hạn thanh toán;
- Các lần đã nhắc nợ;
- Thời hạn cuối cùng để thực hiện nghĩa vụ.
Bước 3. Lựa chọn biện pháp pháp lý
Phương án 1. Khởi kiện tại Tòa án
Đây là phương án phổ biến đối với các tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Phương án 2. Tố giác đến Cơ quan Công an
Nếu có căn cứ cho thấy người vay ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt tài sản hoặc sau khi nhận tiền đã cố tình bỏ trốn, tẩu tán tài sản, gian dối nhằm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì người cho vay có thể gửi đơn tố giác đến Cơ quan Công an.
Trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị xử lý về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lập vi bằng thu thập chứng cứ về việc cho vay tiền
Khi phát sinh tranh chấp về khoản vay nhưng không có giấy vay nợ, việc lập vi bằng để ghi nhận các chứng cứ liên quan sẽ giúp bảo đảm giá trị chứng minh trong quá trình giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Thừa phát lại sẽ lập vi bằng ghi nhận:
- Nội dung tin nhắn SMS, Zalo, Messenger, Email thể hiện việc vay tiền hoặc xác nhận nợ.
- Sao kê ngân hàng, chứng từ chuyển khoản liên quan đến khoản vay.
- Hình ảnh, video, ghi âm các cuộc trao đổi về việc vay và trả nợ.
- Việc giao nộp, xuất trình hoặc sao chụp các tài liệu, chứng cứ.
- Quá trình làm việc, thương lượng, yêu cầu thanh toán giữa các bên.
- Các sự kiện, hành vi khác có thật mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến theo quy định của pháp luật.

