Quyền định đoạt tài sản là một trong những quyền cơ bản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, đối với tài sản là bất động sản trong gia đình, việc xác định đúng chủ thể có quyền định đoạt là yếu tố rất quan trọng nhằm bảo đảm giá trị pháp lý của giao dịch.
Thực tế hiện nay, nhiều người băn khoăn: khi cha mẹ tặng cho quyền sử dụng đất cho một người con thì có bắt buộc phải có sự đồng ý hoặc chữ ký của những người con còn lại hay không?
Câu trả lời phụ thuộc vào việc quyền sử dụng đất đó là tài sản riêng của cha mẹ hay là tài sản có liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng của các thành viên khác trong gia đình.
Trường hợp 1: Đất là tài sản chung của cha mẹ trong thời kỳ hôn nhân
Theo Điều 33 và Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quyền sử dụng đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có căn cứ chứng minh là tài sản riêng.
Đối với tài sản chung là bất động sản, việc định đoạt như chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp… phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả vợ và chồng.
Do đó:
- Nếu quyền sử dụng đất chỉ thuộc sở hữu chung của cha mẹ;
- Không có phần sở hữu của các con;
- Không phải tài sản chung của hộ gia đình;
thì khi cha mẹ tặng cho đất cho một người con, chỉ cần có sự thống nhất và ký kết của cha mẹ, không bắt buộc phải xin ý kiến hay chữ ký đồng thuận của những người con khác.
Nói cách khác, các con không phải là đồng chủ sở hữu thì không có quyền quyết định đối với việc cha mẹ định đoạt tài sản của mình.
Trường hợp 2: Đất là tài sản chung của hộ gia đình hoặc có phần sở hữu của các con
Trên thực tế, không phải mọi quyền sử dụng đất đứng tên cha mẹ đều hoàn toàn thuộc quyền sở hữu riêng của cha mẹ. Có nhiều trường hợp đất là tài sản chung của hộ gia đình hoặc các con cũng có quyền lợi liên quan.
Ví dụ:
- Đất được tặng cho chung hoặc thừa kế chung cho cả cha mẹ và các con;
- Giấy chứng nhận cấp cho “hộ gia đình”;
- Các con có đóng góp tiền bạc, công sức tạo lập tài sản và có căn cứ chứng minh việc đồng sở hữu.
Theo khoản 2 Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với tài sản chung của các thành viên gia đình, việc định đoạt bất động sản phải có sự thỏa thuận của tất cả thành viên thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản đó.
Vì vậy, trong trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình hoặc có phần quyền của các con thì:
- Cha mẹ không thể tự ý tặng cho toàn bộ đất cho một người con;
- Việc tặng cho phải có sự đồng ý của những người cùng có quyền sử dụng đất hoặc cùng sở hữu tài sản.
Nếu thiếu chữ ký của đồng sở hữu, giao dịch tặng cho có thể bị tranh chấp hoặc bị tuyên vô hiệu.
Điều kiện để cha mẹ tặng cho đất cho con
Theo khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024, để thực hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất, cần đáp ứng các điều kiện sau:
- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để thi hành án;
- Đất còn thời hạn sử dụng;
- Không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, đối với một số trường hợp đặc thù như đất giao cho đồng bào dân tộc thiểu số theo chính sách của Nhà nước, việc chuyển nhượng hoặc tặng cho còn phải đáp ứng thêm các điều kiện riêng theo Luật Đất đai 2024.
Kết luận
Việc cha mẹ tặng cho đất cho con có cần chữ ký của những người con khác hay không phụ thuộc vào việc ai là chủ sở hữu hoặc đồng sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất đó.
- Nếu đất là tài sản riêng hoặc tài sản chung của riêng cha mẹ: không cần chữ ký của các con.
- Nếu đất là tài sản chung của hộ gia đình hoặc các con có phần quyền sở hữu: bắt buộc phải có sự đồng ý của những người có quyền liên quan.
Để tránh tranh chấp phát sinh, các bên nên xác định rõ nguồn gốc tài sản, chủ thể có quyền sử dụng đất và thực hiện đầy đủ thủ tục công chứng, sang tên theo quy định pháp luật.


